Hỗ trợ trực tuyến
Hotline
0976.70.88.66
Công ty cổ phần Kiến trúc và Công nghệ xây dựng tiến bộ AATC
Add: 15 ngõ 18 Võ Văn Dũng - P.Ô Chợ Dừa - Q.Đống Đa - Hà Nội.
- Tel: 043 564 1120 Fax: 043 564 1130
- Email :congtyaatc@gmail.com

Thiết kế

Kinh doanh

Lễ tân
        Dịch vụ
Vật liệu XD & TTNT trong không gian nhà ở (Phần IV)
(2011-08-11 09:29:00)



 Vật liệu XD & TTNT trong không gian nhà ở (Phần IV)

2-3. Nhóm đá
Đá thiên nhiên có ở hầu khắp mọi nơi trong vỏ trái đất. Đó là khối khoáng chất chứa một hay nhiều khoáng vật khác nhau.Còn vật liệu đá thiên nhiên thì được chế tạo bằng cách gia công cơ học. Do đó tính chất của vật liệu đá thiên nhiên giống tính chất của đá gốc. Điều kiện hình thành cũng như phạm vi ứng dụng do thành phần khoáng vật quyết định .
Đá là chủng loại vật liệu khá đa dạng và phong phú, con người đã biết công dụng của đá từ rất xa xưa, nhưng đến ngày nay, nhờ công nghệ và sự phát triển của xã hội, các ngành công nghiệp sản xuất và chế tác đá đã phát triển mạnh mẽ. Đá đã không còn là những vât liệu thô sơ, khô cứng; tùy từng loại đá và mục đích sử dụng, chúng được mài dũa, đánh bóng, phủ keo bảo vệ và trở thành những vật liệu thuộc hàng cao cấp và đặt để nơi những vị trí rất quan trọng trong thiết kế,và ở đó, đá có thế phát huy hết vẻ đẹp của mình- với sự cộng tác của đội ngũ thiết kế với các nhà sản xuất, họ đã thổi sinh khí vào trong những khối đá khô cằn- tạo nên cái “hồn” của đá.
Căn cứ vào điều kiện hình thành và cấu tạo địa chất, có thể chia đá thiên nhiên làm 3 loại: đá mác ma, đá biến chất và đá trầm tích.

2-3.1. Đá mác ma

Từ những khối silicát nóng chảy trong lòng đất, phún xuất xâm nhập lên phần trên của vỏ hoặc phun ra ngoài mặt đất, nguội đi tạo thành. Do vị trí và điều kiện nguội, đá mácma được phân làm 2 loại: xâm nhập, và phún xuất.
Đá xâm nhập ở sâu trong vỏ quả đất, nguội đi trong điều kiện áp suất lớn từ các lớp bên trên dần mà thành. Đá mácma xâm nhập gồm các loại:
- Granit ( đá hoa cương)
- Sienit
- Diorít
- Gabrô
Đá phún xuất được tạo ra từ hoạt động phun trào lên trên mặt đất, nguội đi nhanh trong điều kiện áp xuất thấp. Gồm các loại:
- Diaba
- Bazan
- Andesít
Do đặc điểm cấu tạo, các loại đá mácma rất đặc chắc, có kết cấu hạt nhỏ, hạt vừa xen lẫn kết cấu tòan tinh .Thành phần khoáng vật gồm có fenspat , pyroxen, olivin , màu tro sẫm hoặc màu lục nhạt, khối lượng thể tích từ 1500- 3300kg/m3; cường độ chịu nén rất lớn- từ 1200- 2000kg/ cm2. Các loại đá mácma hiện được sử dụng rộng rãi trong xây dựng như: ốp mặt ngoài công trình , làm sàn, bậc cấp, bồn hoa …(đá granít, Diorít, gabrô) hoặc lát đường, làm móng, cầu , đường( diaba, bazan).
Các loại đá phún xuất do không có vân đá nên được chẻ nhỏ theo kích thước phù hợp với mục đích sử dụng, ngoài ra đá được cắt theo miếng vuông nhỏ khoảng 10x10 cm, dùng để ốp một số chi tiết cổng tường rào và trong không gian cafê, tạo nên một cảm giác nhẹ, gần gũi với thiên nhiên. Đồng thời cũng được sử dụng làm các chi tiết trang trí trong không gian nhà ở, tuỳ theo sở thích của chủ nhân. Nhưng nếu lạm dụng chất liệu này sẽ bị phản tác dụng và gây nên cảm giác nặng nề khó chịu.
Ta có thể phân loại theo tính chất cấu tạo cơ học như sau :

  • Đá hộc : Được gia công bằng phương pháp nổ mìn, không qua ga công gọt đẽo.Viên đá phải đạt yêu cầu là chiều dày khoảng 10 cm dài khoảng 25 cm, rộng < 2 lần chiều dày, mặt đá không được lồi lõm qúa 3 cm. Thường được dùng trong xây móng tường nhà, tường chắn, móng trụ đá , trụ cầu, móng cầu, đường ôtô và xe lửa, bêtông.
  • Đá đẽo thô : Là loại gia công thô bề ngoài tương đối bằng phẳng, độ lồi lõm < 10 mm, vuông vắn, cạnh dài nhỏ nhất 15cm và không có góc nhỏ 60 độ.
  • Đá đẽo vừa: Dùng để xây tườngnhà ( tường trong và tường ngoài ) tường ngăn, thường được sản xuất từ các loại đá vôi, vỏ sò, đá vôi mềm và các loại đá nhẹ khác.
  • Đá đẽo kĩ : Là loại đá hộc được gia công kĩ mặt ngoài, chiều dày và dài của đá nhỏ nhất là 15 và 30 cm, chiều rộng của lớp mặt phô ra ngoài ít nhất phải gấp rưỡi chiều dày và không nhỏ hơn 25 cm. Mặt đá bằng phẳng, thường được dùng để xây tường, vòm cuốn và một số chi tiết nội thất khác.
  • Đá phiến : Được dùng để ốp trang trí nội thất, hay mặt ngoài công trình.
  • Đá dăm: Là loại đá vụn ,có cỡ hạt 0,5 – 40 cm được dùng để trộn bêtông.

a) Ứng dụng đá granite trong nội thất nhà ở

Do được hình thành từ mácma nóng chảy từ khối silicat trong lòng đất ,xâm nhập lên vỏ trái đất, do vị trí địa lý và điều kiện nguội khác nhau, nên tạo nên những vân và màu đá khác nhau. Có cấu tạo địa chất phong phú và đa dạng về màu sắc, những màu thường thấy như: đen, vàng, xám; được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và nội thất, chủ yếu được ốp trên các bề mặt công trình .
Thành phần chủ yếu là thạch anh, fenspat và một ít mica, khối lượng thể tích lớn 2600-2700kg/m3, cường độ nén rất lớn (1200-2500kg/cm2). Được xẻ trên dây chuyền hiện đại, qua nhiều công đoạn cắt gọt và mài dũa nhiều lần để lộ vân đá và độ bóng của sản phẩm, kích thước không lớn lắm do khâu khai thác và vận chuyển. Độ dày chuẩn từ 2 ~ 3 cm. Ngoài ra hiện nay chúng ta có thế thấy trên thị trường xuất hiện nhiều loại đá granite có màu sắc kỳ lạ và đẹp mắt, tuy nhiên những loại đá này được khuyến cáo là có thể hại cho sức khoẻ con người. Do loại đá này đã được nhuộm qua hoá chất công nghiệp, trong khi sử dụng nếu bị tác động nhiều của khí hâu hay nước, sẽ thấy tình trạng rửa trôi và nhạt màu sản phẩm .

 

Hình 2-20. Một số mẫu đá Granitentiêu biểu:

 

a- Đá Granite vân lam b- Đá Granite vân nâu

 

c- Đá Granite vân hoàng thổ

 

d- Đá Granite nâu và lam e- Đá Granite vân hoa lam

Hình 2-21. Phòng tắm lát đá Granite

-Phòng tắm : Sử dụng hoàn toàn bằng chất liệu đá granite mang đến cho người sử dụng cảm giác thư giãn và thoải má, vì màc sắc và ánh sáng nhẹ nhàng phù hợp với mục đích sử dụng

 

 

Hình 2-22. Đá thô kết hợp gạch đất nung trong không gian nhà ở

- Phòng khách : Mảng đá thô nơi góc tường với một tỉ lệ vừa phải, tạo cho không gian cảm giác gần gũi thân thiện kết hợp với tông màu vàng đất của tường, tạo một sự chuyển hoá nhẹ nhàng từ chất liệu này sang chất liệu khác. Màu sắc trong căn phòng đều đi theo sát màu sắc chính có trong đá. Tạo nên một hoà sắc nhã nhặn và trang trọng

 

Hình 2-23. Đưa đá ghép làm mảng nhấn trong không gian phòng khách

2-3.2. Đá biến chất ( đá Phước Tường)

Hình thành từ sự biến tính của đá mácma do nhiều tác động của môi trường tự nhiên như: áp lực, áp suất cao và các chất hoá học. Đá biến chất thường rắn chắc hơn đá trầm tích, nhưng do cấu tạo dạng phiếm- tạo thành các lớp song song mà tính chất cơ học của nó kém đá mácma.
Hiện nay trong xây dựng, chúng ta thường sử dụng đá Phước tường; sở dĩ có tên gọi như vậy là do loại đá này có xuất xứ tại Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng ,thuộc miền trung Việt Nam ,người ta quen gọi nó bằng cái tên gắn liền với nguồn gốc xuất xứ. Loại đá này thường có màu vàng hoàng thổ lẫn với màu nâu và màu đỏ của đất sét, cấu tạo địa chất xếp lớp .Được xẻ theo dạng miếng khoảng 3cm, rất nhiều hình dạng do vỡ ra một cách rất tự nhiên. Thường được dùng để lát lối đi, bậc cầu thang trong các thiết kế ngoại thất sân vườn và cũng có thể làm điểm nhấn trong không gian nội thất diện tích lớn.

Hình 2-24. Các dạng ốp lát bằng đá biến chất ( đá Phước tường)

Hình 2-25. Sử dụng đá biến chất vào nội thất nhà ở

2-3.3. Đá trầm tích ( đá ghép)

Ngoài ra còn có các loại đá ghép sử dụng phối liệu bằng nhiều thành phần như: đá vôi, sa thạch, thạch cao và các tạp chất như silic, đất sét.
Theo nhu cầu của thị trường, hiện nay đã có nhiều dạng đá công nghiệp sử dụng các phối liệu từ đá trầm tích mà thành phần chủ yếu là thạch cao; tạo hình được nhiều dạng mô phỏng thế đá biến chất tự nhiên; thích hợp cho không gian bên trong mà giá thành lại rẻ hơn rất nhiều so với đá tự nhiên .

 

Hình 2-26. Một số dạng sỏi cuội của đá trầm tích cơ học

 

Hình 2-27. Một số dạng đá ghép

Hình 2-28. Vật liệu đá trong trang trí nội thất nhà ở

Vật liệu XD & TTNT trong không gian nhà ở (Phần IV)

2-3. Nhóm đá
Đá thiên nhiên có ở hầu khắp mọi nơi trong vỏ trái đất. Đó là khối khoáng chất chứa một hay nhiều khoáng vật khác nhau.Còn vật liệu đá thiên nhiên thì được chế tạo bằng cách gia công cơ học. Do đó tính chất của vật liệu đá thiên nhiên giống tính chất của đá gốc. Điều kiện hình thành cũng như phạm vi ứng dụng do thành phần khoáng vật quyết định .
Đá là chủng loại vật liệu khá đa dạng và phong phú, con người đã biết công dụng của đá từ rất xa xưa, nhưng đến ngày nay, nhờ công nghệ và sự phát triển của xã hội, các ngành công nghiệp sản xuất và chế tác đá đã phát triển mạnh mẽ. Đá đã không còn là những vât liệu thô sơ, khô cứng; tùy từng loại đá và mục đích sử dụng, chúng được mài dũa, đánh bóng, phủ keo bảo vệ và trở thành những vật liệu thuộc hàng cao cấp và đặt để nơi những vị trí rất quan trọng trong thiết kế,và ở đó, đá có thế phát huy hết vẻ đẹp của mình- với sự cộng tác của đội ngũ thiết kế với các nhà sản xuất, họ đã thổi sinh khí vào trong những khối đá khô cằn- tạo nên cái “hồn” của đá.
Căn cứ vào điều kiện hình thành và cấu tạo địa chất, có thể chia đá thiên nhiên làm 3 loại: đá mác ma, đá biến chất và đá trầm tích.

2-3.1. Đá mác ma

Từ những khối silicát nóng chảy trong lòng đất, phún xuất xâm nhập lên phần trên của vỏ hoặc phun ra ngoài mặt đất, nguội đi tạo thành. Do vị trí và điều kiện nguội, đá mácma được phân làm 2 loại: xâm nhập, và phún xuất.
Đá xâm nhập ở sâu trong vỏ quả đất, nguội đi trong điều kiện áp suất lớn từ các lớp bên trên dần mà thành. Đá mácma xâm nhập gồm các loại:
- Granit ( đá hoa cương)
- Sienit
- Diorít
- Gabrô
Đá phún xuất được tạo ra từ hoạt động phun trào lên trên mặt đất, nguội đi nhanh trong điều kiện áp xuất thấp. Gồm các loại:
- Diaba
- Bazan
- Andesít
Do đặc điểm cấu tạo, các loại đá mácma rất đặc chắc, có kết cấu hạt nhỏ, hạt vừa xen lẫn kết cấu tòan tinh .Thành phần khoáng vật gồm có fenspat , pyroxen, olivin , màu tro sẫm hoặc màu lục nhạt, khối lượng thể tích từ 1500- 3300kg/m3; cường độ chịu nén rất lớn- từ 1200- 2000kg/ cm2. Các loại đá mácma hiện được sử dụng rộng rãi trong xây dựng như: ốp mặt ngoài công trình , làm sàn, bậc cấp, bồn hoa …(đá granít, Diorít, gabrô) hoặc lát đường, làm móng, cầu , đường( diaba, bazan).
Các loại đá phún xuất do không có vân đá nên được chẻ nhỏ theo kích thước phù hợp với mục đích sử dụng, ngoài ra đá được cắt theo miếng vuông nhỏ khoảng 10x10 cm, dùng để ốp một số chi tiết cổng tường rào và trong không gian cafê, tạo nên một cảm giác nhẹ, gần gũi với thiên nhiên. Đồng thời cũng được sử dụng làm các chi tiết trang trí trong không gian nhà ở, tuỳ theo sở thích của chủ nhân. Nhưng nếu lạm dụng chất liệu này sẽ bị phản tác dụng và gây nên cảm giác nặng nề khó chịu.
Ta có thể phân loại theo tính chất cấu tạo cơ học như sau :

  • Đá hộc : Được gia công bằng phương pháp nổ mìn, không qua ga công gọt đẽo.Viên đá phải đạt yêu cầu là chiều dày khoảng 10 cm dài khoảng 25 cm, rộng < 2 lần chiều dày, mặt đá không được lồi lõm qúa 3 cm. Thường được dùng trong xây móng tường nhà, tường chắn, móng trụ đá , trụ cầu, móng cầu, đường ôtô và xe lửa, bêtông.
  • Đá đẽo thô : Là loại gia công thô bề ngoài tương đối bằng phẳng, độ lồi lõm < 10 mm, vuông vắn, cạnh dài nhỏ nhất 15cm và không có góc nhỏ 60 độ.
  • Đá đẽo vừa: Dùng để xây tườngnhà ( tường trong và tường ngoài ) tường ngăn, thường được sản xuất từ các loại đá vôi, vỏ sò, đá vôi mềm và các loại đá nhẹ khác.
  • Đá đẽo kĩ : Là loại đá hộc được gia công kĩ mặt ngoài, chiều dày và dài của đá nhỏ nhất là 15 và 30 cm, chiều rộng của lớp mặt phô ra ngoài ít nhất phải gấp rưỡi chiều dày và không nhỏ hơn 25 cm. Mặt đá bằng phẳng, thường được dùng để xây tường, vòm cuốn và một số chi tiết nội thất khác.
  • Đá phiến : Được dùng để ốp trang trí nội thất, hay mặt ngoài công trình.
  • Đá dăm: Là loại đá vụn ,có cỡ hạt 0,5 – 40 cm được dùng để trộn bêtông.

a) Ứng dụng đá granite trong nội thất nhà ở

Do được hình thành từ mácma nóng chảy từ khối silicat trong lòng đất ,xâm nhập lên vỏ trái đất, do vị trí địa lý và điều kiện nguội khác nhau, nên tạo nên những vân và màu đá khác nhau. Có cấu tạo địa chất phong phú và đa dạng về màu sắc, những màu thường thấy như: đen, vàng, xám; được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và nội thất, chủ yếu được ốp trên các bề mặt công trình .
Thành phần chủ yếu là thạch anh, fenspat và một ít mica, khối lượng thể tích lớn 2600-2700kg/m3, cường độ nén rất lớn (1200-2500kg/cm2). Được xẻ trên dây chuyền hiện đại, qua nhiều công đoạn cắt gọt và mài dũa nhiều lần để lộ vân đá và độ bóng của sản phẩm, kích thước không lớn lắm do khâu khai thác và vận chuyển. Độ dày chuẩn từ 2 ~ 3 cm. Ngoài ra hiện nay chúng ta có thế thấy trên thị trường xuất hiện nhiều loại đá granite có màu sắc kỳ lạ và đẹp mắt, tuy nhiên những loại đá này được khuyến cáo là có thể hại cho sức khoẻ con người. Do loại đá này đã được nhuộm qua hoá chất công nghiệp, trong khi sử dụng nếu bị tác động nhiều của khí hâu hay nước, sẽ thấy tình trạng rửa trôi và nhạt màu sản phẩm .

 

Hình 2-20. Một số mẫu đá Granitentiêu biểu:

a- Đá Granite vân lam b- Đá Granite vân nâu

c- Đá Granite vân hoàng thổ

d- Đá Granite nâu và lam e- Đá Granite vân hoa lam

Hình 2-21. Phòng tắm lát đá Granite

-Phòng tắm : Sử dụng hoàn toàn bằng chất liệu đá granite mang đến cho người sử dụng cảm giác thư giãn và thoải má, vì màc sắc và ánh sáng nhẹ nhàng phù hợp với mục đích sử dụng

 

Hình 2-22. Đá thô kết hợp gạch đất nung trong không gian nhà ở

- Phòng khách : Mảng đá thô nơi góc tường với một tỉ lệ vừa phải, tạo cho không gian cảm giác gần gũi thân thiện kết hợp với tông màu vàng đất của tường, tạo một sự chuyển hoá nhẹ nhàng từ chất liệu này sang chất liệu khác. Màu sắc trong căn phòng đều đi theo sát màu sắc chính có trong đá. Tạo nên một hoà sắc nhã nhặn và trang trọng

 

Hình 2-23. Đưa đá ghép làm mảng nhấn trong không gian phòng khách

2-3.2. Đá biến chất ( đá Phước Tường)

Hình thành từ sự biến tính của đá mácma do nhiều tác động của môi trường tự nhiên như: áp lực, áp suất cao và các chất hoá học. Đá biến chất thường rắn chắc hơn đá trầm tích, nhưng do cấu tạo dạng phiếm- tạo thành các lớp song song mà tính chất cơ học của nó kém đá mácma.
Hiện nay trong xây dựng, chúng ta thường sử dụng đá Phước tường; sở dĩ có tên gọi như vậy là do loại đá này có xuất xứ tại Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng ,thuộc miền trung Việt Nam ,người ta quen gọi nó bằng cái tên gắn liền với nguồn gốc xuất xứ. Loại đá này thường có màu vàng hoàng thổ lẫn với màu nâu và màu đỏ của đất sét, cấu tạo địa chất xếp lớp .Được xẻ theo dạng miếng khoảng 3cm, rất nhiều hình dạng do vỡ ra một cách rất tự nhiên. Thường được dùng để lát lối đi, bậc cầu thang trong các thiết kế ngoại thất sân vườn và cũng có thể làm điểm nhấn trong không gian nội thất diện tích lớn.

 

Hình 2-24. Các dạng ốp lát bằng đá biến chất ( đá Phước tường)

 

Hình 2-25. Sử dụng đá biến chất vào nội thất nhà ở

2-3.3. Đá trầm tích ( đá ghép)

Ngoài ra còn có các loại đá ghép sử dụng phối liệu bằng nhiều thành phần như: đá vôi, sa thạch, thạch cao và các tạp chất như silic, đất sét.
Theo nhu cầu của thị trường, hiện nay đã có nhiều dạng đá công nghiệp sử dụng các phối liệu từ đá trầm tích mà thành phần chủ yếu là thạch cao; tạo hình được nhiều dạng mô phỏng thế đá biến chất tự nhiên; thích hợp cho không gian bên trong mà giá thành lại rẻ hơn rất nhiều so với đá tự nhiên .

Hình 2-26. Một số dạng sỏi cuội của đá trầm tích cơ học

Hình 2-27. Một số dạng đá ghép

Hình 2-28. Vật liệu đá trong trang trí nội thất nhà ở

Vật liệu XD & TTNT trong không gian nhà ở (Phần V)

2-4. Nhóm kim loại
Được chia làm hai loại : Kim loại đen và kim loại màu
a- Kim loại đen: Như sắt thép, gang là hỗn hợp sắt – cacbon với một số nguyên tố khác như silic, mangan, photpho, lưu huỳnh …Khi tăng luợng cacbon tính chất của sắt thép cũng thay đổi, độ dẻo giảm, cường độ và độ dòn tăng.
b- Kim loại màu : Được chia làm 2 loại nhẹ và nặng. Nhôm và magiê thuộc loại nhẹ. Loại nặng bao gồm: Đồng, thiếc và hợp kim như inox .

2-4.1. Sắt,thép

Là loại vật liệu rất đa dạng về chức năng, các công trình được bền vững theo thời gian, một phần rất lớn nhờ vào vật liệu này. Sắt dùng làm khung kết cấu, chống đỡ bên trong, dùng làm đan dầm, cột hay sàn trong việc đổ bêtông hoặc đơn giản hơn như rèn, tiện nguội và làm hàng rào. Bên cạnh đó sắt cũng rất duyên dáng trong sự uốn nắn sáng tạo của con người, sắt tinh tế và nhẹ nhàng khi kết hợp với mây tre hay vải thô, tạo thành những tác phẩm nội thất gia dụng rất sinh động .

Hình 2-29. Các tấm sắt dập hoạ tiết dùng trong trang trí nội thất

 

Hình 2-30. Sắt thanh uốn trong chi tiết cổng, tường rào

 

Hình 2-31. Cầu thang sắt tạo dáng công nghiệp, khoẻ mạnh trong nội thất nhà ở

2-4.2. Đồng

Dùng để chế tạo các chi tiết như nắm cửa ,khoá cửa ,bản lề , khoá và rất nhiều chi tiết nội thất khác. Do đặc tính mềm, dễ uốn nắn nên dùng chế tạo nhiều chi tiết tinh xảo theo phong cách Phục hưng. Nhược điểm là dễ bị xỉn màu do bị oxy hoá nếu không phủ sơn bảo vệ

Hình 2-32. Một số dạng tay nắm cửa bằng đồng

2-4.2. Nhôm

Thường được sử dụng làm khung kết cấu nhẹ, hay khung bao cho cửa kính. Ưu điểm là nhẹ, mềm, dễ gia công cắt gọt; nhưng điểm yếu nhất là kém về chịu lực.

Hình 2-33. Một số mẫu khung nhôm

2-4.3. Inox

Là loại vật liệu cao cấp, tính chất đặc biệt là không rỉ, độ bóng cao, thường được sự dụng chế tạo các chi tiết nội thất hay tiếp xúc với nước và ánh nắng trực tiếp như lan can, tay vịn, vòi nước, bồn rửa, nắp đậy chỗ thoát nước nhà tắm ...Nhưng bên cạnh đó inox cũng được dùng cho những chi tiết đặc biệt làm điểm nhấn cho một thiết bị nào đó. Tính năng của inox đa dạng và nhiều ưu điểm

a) - b)

c) - d)
Hình 2-34. Các ứng dụng của Inox trong không gian nội thất:

a) Lan can; b) Giá đèn trang trí; c) Giá treo ly trong gian bếp; d) tủ đựng trái cây

 

Hình 2-35. Phòng sinh hoạt chung, không gian tụ họp của gia đình với thiết kế hiện đại,sử dụng chất liệu chính là sắt tấm đục lỗ sơn trắng sữa và chân bàn bằng sắt chữ I kết hợp với kính và inox .

2-5. Nhóm thuỷ tinh
Thuỷ tinh được làm từ cát thạch anh nung chảy dươi nhiệt độ cao, là một dung dịch rắn ở dạng vô định hình, độ bền hoá học cao. Trở thành một loại vật liệu có hình dạng và màu sắc vô cùng phong phú, thủy tinh dùng trong chế tác các loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, bình hoa, ly, chén …cho đến những bức tranh kính màu đã có từ rất lâu nơi cửa sổ trong các nhà thờ theo phong cách Phục hưng hay những tấm kính và gạch kính như ngày nay. Thủy tinh nhờ đặc tính trong suốt, thấu quang và phản quang rất tốt nên được sử dụng khá nhiều trong thiết kế nội thất, đặc biệt là các công trình nhà ở.

2-5.1. Tính chất của các loại kính

Kính silicat thường cho tất cả những phần quang phổ nhìn thấy được đi qua và thực tế là không cho tia tử ngoại và hồng ngoại đi qua. Khi thay đổi màu sắc có thể hạn chế hoặc thay đổi cường độ ánh sáng đi qua, khối luợng riêng là 2500 kg/m3, mô đun đàn hồi trong khoảng 48000 ~ 83000kg/m3. Kính có cường độ nén cao 700 ~ 1000 kg/cm2, cường độ kéo thấp 35 ~ 85 kg/cm2. Có khả năng gia công cơ học, cưa cắt bằng dao có đầu kim cương. Ở Trạng thái dẻo khi nhiệt độ khoảng 800 ~ 1000° C có thể thổi tạo hình.

2-5.2. Nguyên tắc chế tạo kính

Nguyên liệu chính để chế tạo ra kính là cát thạch anh, đá vôi, soda, và sunfat natri. Được nấu trong các lò thuỷ tinh ở nhiệt độ 1500° C. Nhiệt độ 800 - 900° C là nhiệt độ hình thành silicat vào cuối thời kỳ nung chảy có thể lên đến 1200° C, lúc này thủy tinh đã trong suốt nhưng vẫn còn chứa nhiều bọt khí, việc tách bọt khí khi thuỷ tinh ở nhiệt độ 1500° C . Lúc này khối thuỷ tinh hoàn toàn tách khí và trở thành đồng nhất. Để có độ dẻo tạo hình cần phải hạ nhiệt độ xuống khoảng 200 -300° C. Việc chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái thuỷ tinh là một quá trình thuận nghịch. Khi để trong không khí và nhiệt độ cao một số loại thuỷ tinh có thể kết tinh.

2-5.3. Kính phẳng

Kính phẳng được dùng làm kính cửa sổ, cửa đi, mặt kính bàn hoặc tủ trưng bày, khi chiều dày kính tăng thì khả năng xuyên sáng sẽ giảm, nhiệt độ tôi khoảng 540 – 650° C rồi làm nguội nhanh và đều. Làm như vậy thì nội ứng suất sẽ phân bố đều đặn trong kính, đồng thời cường độ chịu va đập và chịu uốn sẽ tăng .Kính có cốt là loại kính được gia cường bằng lưới kim loại chế tạo từ những sợi thép đã được ủ nhiệt và mạ crôm hoặc niken. Do bị ép chặt trong kính, lưói kim loại có tác dụng là bộ khung giữ chặt những mảnh kính vụn khi nó vỡ để tránh được nguy hiểm, thường được dùng làm kính mái lấy ánh sáng, và cũng có thể dùng làm trang trí
Kính an toàn là loại kính do cấu tạo đặc biệt để khi kính vỡ sẽ tạo ra vô vàn mảnh nhỏ không quá 1cm nhằm bảo đảm an toàn cho người sử dụng, thường được sử dụng ở những nơi có khả năng va chạm cao, như cửa sổ, cửa đi hay vách ngăn giữa các không gian .
Kính giữ nhiệt về thành phần khác với các loại kính khác do có chứa các oxit sắt, coban và niken. Nhờ đó mà có màu xanh nhạt, loại kính này giữ được 70 -75 % tia hồng ngoại, hơn gấp 3 lần so với kính thông thường. Thường được gắn ơ mặt ngoại công trình, nơi tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời. Nhưng do sự hút nhiệt lớn nên nhiệt dộ và biến dạng tăng lên đáng kể. Vì vậy khi lặp đặt phải chừa khe hở vừa đủ giữa khung và kính .

Hình 2-36. Ứng dụng kính vào phòng ngủ, kệ trang trí bằng kính ở đầu giường và gương trang điểm

2-5.4. Các sản phẩm thuỷ tinh

Bloc thuỷ tinh rỗng có khả năng tán xạ ánh sáng lớn, những ô cửa sổ, vách ngăn được sử dụng bloc thuỷ tinh có khả năng cách nhiệt và cách âm tốt. Bloc thuỷ tinh thường gồm hai nửa gắn lại với nhau, ở giữa rỗng. Dạngphổ biến chúng tra thường thấy đó là Gạch kính .

Hình 2-37. Gạch block thuỷ tinh

Thuỷ tinh xếp lớp gồm hai hoặc ba tấm thủy tinh, xen giữa là lớp đệm không khí bị bịt kín. Vì vậy sản phẩm này có khả năng cách nhiệt và các âm tốt, không bị đọng sương, không phải lau chùi bên trong. Tùy theo công dụng mà sản phẩm thuỷ tinh xếp lớp có thể được chế tạo từ kính cửa, kính tôi, kính phản quang hoặc cácloại kính khác .

Hình 2-38. Các vật dụng trang trí trong nội thất bằng thuỷ tinh màu

Pha lê cao cấp hơn nữa đó là pha lê, là loại vật liệu khá qúy, cũng được nung chảy từ cát, nhưng quá trình diễn ra lâu hơn dưới nhiệt độ cao hơn rất nhiều lần so với khi nung chảy để tạo ra thuỷ tinh, và được tinh lọc tạp chất khá kỹ càng, tạo cho sản phấm độ trong suốt và xuyên sáng tuyệt vời. Pha lê có tỉ trọng nặng hơn gấp 5 lần so với thuỷ tinh, và vì pha lê trong suốt, xuyên sáng tốt nên thường được dùng để tạo ra những sản phẩm tinh xảo như tượng trang trí, bình hoa hay những món đồ trang sức lấp lánh vô cùng đẹp mắt.

 

2-6. Nhóm vật liệu Composite (vật liệu tổng hợp )
2-6.1. Khái niệm

Vật liệu composite là một hệ thống di pha (không đồng nhất) được chế tạo tứ 2 cấu tử trở lên, sao cho đặc tính của cấu tử vẫn giữ nguyên. Một cấu tử trong đó có tính chất liên tục trên toàn bộ khối vật liệu được gọi là cấu tử nền. Cấu tử khác phân bố gián đoạn trong khối vật liệu nên đuợc gọi là cấu tử cốt (làm đặc)
Cấu tử nền có thể là hợp kim, ceramic, polime vô cơ và polime hữu cơ. Chúng thường có dạng phân tán mịn hoặc dạng sợi ( vô cơ, hữu cơ )
Những vật liệu là composite có thể kể đến như là bê tông, bê tông cốt thép, bê tông cốt sợi, xi măng, amiang, tấm sợi gỗ, tấm dăm bào gỗ, tấm chất dẻo có cốt.
Việc xuất hiện thuật ngữ composite có liên quan đến một hướng kỹ thuật hoàn toàn mới, đó là việc hình thành ra một loại chất liệu có cường độ cao, chủ yếu được sử dụng trong công nghệ chế tạo máy bay, vệ tinh và chế tạo máy. Là vật liệu thay thế thích hợp cho một số vật liệu truyền thống, nó khắc phục được những nhựơc điểm của vật liệu truyền thống và vậtliệu composite lại có những ưu điểm mà đôi khi vật liệu truyền thống không có được như: độ bền, khả năng ứng dụng đa dạng và thẩm mỹ cao.

2-6.2. Cấu tạo của composit

Tính chất cơ học và các tính chất khác của composite được xác định bằng 3 thông số cơ bản: cường độ cao của cốt sợi, độ cứng của vật liệu nền và cường độ mối liên kết trên bề mặt phân chia nền và sợi. Quan hệ của những thông số này liên quan đến cơ chế phá hủy của vật liệu. Độ bền của composite dựa trên công nghệ sản xuất thích hợp, giữ được tính chất ban đầu của các cấu tử .
Sự đa dạng của vật liệu sợi và vật liệu nền, cũng như sự đa dạng các sơ đồ phân bố cốt sợi, cho phép điều chỉnh có định hướng cường độ, độ cứng, mức độ chịu nhiệt và các tính chất khác của vật liệu composite.
Theo bản chất có thể phân ra thành một số nhóm như sau:
- Vật liệu nền polime (composite chất dẻo )được dùng làm thuyền, bồn tắm, bồn chứa nước, hồ bơi, vách ngăn trong phòng tắm …
- Vật liệu nền kim loại ( composite kim loại )
- Vật liệu trên nền gốm ,vật liệu nền cacbon
Ví dụ : tấm lợp polycabonatre là một loại vật liệu composite có thể sử dụng theo nhiều cách khác nhau, có thể dùng trong xây dựng, kết hợp với khung sắt để tạo nên những mái che xuyên sáng cho công trình, polycabonatre có rất nhiều chủng loại và màu sắc đẹp, hiện đại, và cũng rất thích hợp dùng trong trang trí nội thất nhà ở như dùng làm vách ngăn trang trí hay làm cửa phòng tắm …
Tấm ốp trang trí Allucolic, có thể dùng ốp bề mặt công trình hoặc các thiết bị nội thất, là vật liệu tổng hợp từ nhôm và phủ một lớp sơn công nghiệp có hoa văn lên trên bề mặt tấm ốp, có tác dụng làm đẹp cho sản phẩm và chống trầy sước. Có rất nhiều mẫu mã va màu sắc tùy theo yêu cầu thiết kế ta có thể lựa chọn mẫu cho phù hợp.

Hình 2-39. Một số mẫu tấm ốp allucolic

2-7. Nhóm vật liệu sơn
2-7.1. Khái niệm

Vật liệu sơn là vật liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên, nhân tạo hoặc tổng hợp ở dạng lỏng, dùng để quýet lên bề mặt của sản phẩm, nhằm chống rỉ cho kim loại, chống ẩm và chống mục cho gỗ, bảo vệ khỏi tác động của một số hoá chất, đảm bảo điều kiện vệ sinh và để tăng nét đẹp thẩm mỹ cho sản phẩm .
Ở nước ta có cây sơn trồng nhiều ở vùng Trung Du, nhựa của nó dùng để tạo sơn tương đối đơn giản. Ngoài ra còn có nhiều loại dầu thực vật (dầu trẩu, dầu gai, dầu lanh, dầu thông ) có thể dùng để chế tạo sơn. Là loại vật liệu được sử dụng rất phổ biến, chỉ nói riêng trong ngành xây dựng và trang trí nội thất thì sơn có một vai trò không thể thiếu trong việc tăng thêm nét đẹp cho các sản phẩm design bằng màu sắc khoác lên trên nó .
Để đảm bảo tuổi thọ và chất lượng của sơn, cần phải thỏa mãn các yêu cầu sau: sơn phải nhanh khô ( không muộn hơn 24 h sau khi sơn ), và ngày nay thường được sơn dưới dạng dùng pitôlê thổi từng lớp một, sảnphẩm được hoàn thành nhanh khô hơn và độ bền cũng cao hơn, rất khó bị trầy tróc. Ngoài ra còn phải đảm bảo yêu cầu cách điện, cách âm, chịu ẩm ướt.
Vật liệu sơn được phân ra làm hai loại: sơn, vecni và các vật liệu phụ. Sơn có tác dụng tạo ra lớp màu bảo vệ sản phẩm, vecni thì trong suốt và phủ trang trí lần cuối lên bề mặt sơn. Trong công đoạn sơn, phải chuẩn bị các loại vật liệu phụ như: matít bồi mặt, sơn lót, matít gắn, keo sữa để chuẩn bị cho bề mặt sơn .

2-7.2. Thành phần của sơn

Tuỳ theo công nghệ sản xuất nhưng dù với công nghệ nào thì cũng phải đảm bảo các thành phần như: chất kết dính ( chất tạo màng) chất tạo màu, chát độn và dung môi.
Chất kết dính là thành phần chủ yếu của sơn, nó xác định độ quánh, cường độ, độ cứng và tuổi thọ của sơn. Nguyên liệu chủ yếu của chất kết dính là keo, dầu tổng hợp.
Chất tạo màu và chất độn là những chất vô cơ hoặc hữu cơ nghiền mịm, không tan hoặc tan trong nước; nó dùng cải thiện tính chất và tăng cường tuổi thọ của sơn.
Dung môi là một loại chất lỏng dùng pha sơn, tạo cho sơn đạt nồng độ khi thi công. Dầu thông, dung môi than đá, spirit trắng, etxăng là những loại dung môi thường được dùng pha với sơn.
Ngoài ra, để tăng nhanh quá trình khô cứng( đóng rắn) cho sơn hoặc vecni, người ta còn sử dụng các chất làm khô. Chất làm khô thường được sử dụng 5- 8% trong sơn và đến 10% trong vecni. Trong sơn xây dựng hay dùng dung dịch muối chì- mângn của axit naftalen làm chất làm khô.

Chất pha loãng dùng để pha loãng sơn đặc hoặc sơn vô cơ khô .Khác với dung môi chất pha loãng chứa một lượng cần thiết chất tạo màng để tạo cho màng sơn chất lượng cao.

2-7.3. Các loại sơn

Sơn được chia ra các loại: sơn dầu, sơn men, sơn pha nước, sơn pha nhựa bay hơi.

  • Sơn dầu: là hỗn hợp của chất tạo màu và chất tạo màu được nghiền mịn trong máy nghiền cùng với dầu thực vật, được sản xuất dưới hai dạng: Sơn đặc chứa 12 -25% dầu (trước khi dùng pải dùng dầu pha loãng ) và loãng chứa 30-35% dầu so với khốilượng chất tạo màu. Chất lượng sơn dầu được đánh giá bằng hàm lượng chất tạo màu và dầu sơn, được sử dụng phổ biến để sơn các sản phẩm gỗ trang trí nội thất .
  • Sơn men : là huyền phù chất tạo màu vô cơ hoặc hữu cơ với vecni tổng hợp hoặc vecni dầu. Sơn men chứa nhiều chất kết dính nên bề mặt rất dễ bong tróc, bên cạnh đó sơn men có độ bền ánh sáng và chống mài mòn tốt, thường dùng để sơn các bề mặt kim loại, bê tông và gỗ phía trong và ngoài nhà. Sơn Ankit và Epoxit là hai loại sơn men phổ biến hiện nay .
  • Sơn nước (sơn pha nước ): được chia ra làm nhiều loại ( tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng), phổ biến có các loại: sơn vôi, sơn silicat và sơn xi măng.
  • Sơn vôi : gồm có vôi, bột màu, clorua natri, clorua canxi hoặc muối canxi, axit, dầu lanh. Dùng để sơn tường gạch, bê tông trong và ngoài nhà. Nhược điểm của loại này là dễ bị rêu và mảng bám nếu ở sử dụng ở môi trường nhiều độ ẩm và dễ bạc màu dưới tác động của áng sáng mặt trời.
  • Sơn silicat được chế tạo từ bột đá phấn nghiền mịn, bột tan, bột kẽm trắng và bột màu bền kiềm với dung dịch thủy tinh lỏng kali hoặc natri. Sơn silicat rất kinh tế và có tuổi thọ cao hơn sơn peclovinyl sơn vôi và sơn cazein.
  • Sơn xi măng là loại sơn có dung môi và nước, sơn polime- ximăng được chế tạo từ chất tạo màu bền kiềm, bền ánh sáng, cùng với xi măng và nhựa tổng hợp .

4-2. Mối liên hệ giữa vật liệu và ánh sáng
Nói đến mối quan hệ giữa vật liệu và ánh sáng, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến sự mật thiết và tương tác lẫn nhau giữa hai yếu tố vô cùng quan trọng, khi cấu thành nên hiệu qủa của không gian nội thất .
Anh sáng mang đến hiệu quả về mặt thị giác, làm tăng nét thẩm mỹ của vật liệu , làm rõ thêm chi tiết hoặc thay đổi màu trên bề mặt vật liệu, ánh sáng còn giúp thư giãn thần kinh, làm tăng sự tập trung của điểm nhìn . Sự hiểu biết về mặt trời như là một nguồn năng lượng chiếu sáng đã có từ khi con người lần đầu bước đi trên mặt đất .Không gì có thể thay thế mặt trời ,nhưng cường độ ánh sáng của mặt trời quá lớn, cộng thêm bức xạ làm phai màu một số vật liệu, nên những vật liệu sử dụng bên ngoài công trình thường phải đảm bảo một số yêu cầu để có thể thích ứng được khi sử dụng ngoài ánh nắng gắt và mưa gió .Ngày nay con người hiện đại đã không ngưng tìm tòi và sáng tạo để tạo ra những sắc màu ánh sáng khác nhau, phục vụ cho nhu cầu đa dạng của con người . Với từng dạng không gian khác nhau, sẽ có những lựa chọn cách bố trí ánh sáng khác nhau, nhằm tăng hiệu qủa về mặt thị giác thẩm mỹ của vật liệu .

a) b)

c)

d) e)

f) g)

h)
Hình 4- 8. a- b- c – d – e- f – g –h : Những hiệu qủa của ánh sáng trong nhiều loại không gian


4-3 . Sự tương quan về mặt thẩm mỹ giữa vật liệu dùng trong xây dựng và vật liệu dùng trong trang trí nội thất
Với nền khoa học- kinh tế – kỹ thuật phát triển như hiện nay, thật không khó để tạo ra một không gian đẹp và hiệu qủa, nếu như chúng ta biết chọn lựa và phối hợp những vật liệu với nhau . Không nên quan niệm rằng vật liệu xây dựng thô ráp khô cứng, không thể sử dụng cho không gian nội thất bên trong . Hai loại vât liệu xây dựng và vật liệu trang trí nội thất có một số điểm khác biệt nhưng cũng có nhiểu điểm tương đồng, tùy theo sở thích của từng ngươì mà nhà thiết kế có thể tạo ra những không gian rất riêng , có những không gian thật êm đềm lãng mạn, nhưng không ít chủ nhân thích ngôi nhà hay căn phòng của mình mang vẻ đặc biệt, tượng trưng cho cá tính mạnh mẽ của mình, bằng sự yêu thích khi sử dụng những vật liệu mang tính phá cách . Hay cũng có thể hoán chuyển dựa trên khả năng hoặc sự ưa thích của chủ nhà .Sự cách tân của nhà thiết kế, kinh nghiệm của người thợ thi công và yêu cầu tiện nghi của chủ nhà là những hạn định cho những điều khả thi.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai loại vật liệu này cộng thêm ý tưởng sáng tạo của nhà thiết kế, sẽ mang đến những hiệu quả bất ngờ về mặt thẩm mỹ và cảm xúc cho người sử dụng .


a) - b)

c)
Hình 4- 9. a- b- c – d: Minh họa sự tương quan giữa vật liệu xây dựng và vật liệu nội thất khi kết hợp trong không gian nội thât


CHƯƠNG 5 :

KẾT LUẬN

Vật liệu chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng trong các công trình xây dựng . Chất lượng của vật liệu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và tuổi thọ của công trình, cũng như tác động không nhỏ đến cảm xúc của người sử dụng . Có rất nhiều loại vât liệu xây dựng và nội thất trên thị trường, trong khuôn khổ của bài nghiên cứu chuyên đề này, phạm vi nghiên cứu chỉ nghiên cứu sâu về những vât liệu chuyên dùng và thông dụng nhất hiện nay trong thiết kế và thi công nhà ở. Nhằm hiểu được những tính chất, cấu trúc và các thành phần liên quan để cuối cùng ta có thể quyết định được vấn đề thực tế quan trọng : sử dụng vật liệu ở đâu ? Như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất về thẩm mỹ và kinh tế ?
Cuộc hành trình hướng về cái đẹp, và sự tiện ích trong không gian sống; một chốn đi về không thể thiếu của con người, đó là “ngôi nhà “ .Trong bối cảnh cuộc sống phát triển như hiện nay, việc xây dựng một căn nhà đã từng buớc thể hiện được mong muốn hướng tới vẻ đẹp thẩm mỹ của từng chủ nhân, như người ta thuờng nói “nhà tôi phải giống tôi, một câu nói đầy hàm ý, ẩn chứa bên trong là sự trìu mến và tự hào về những gì thuộc cái rất riêng của mình, rất thân thương . người dân đã dần ý thức được sự cần thiết của một kiến trúc sư trong việc thiết kế và lựa chọn vật liệu phù hợp với tính cách, điều kiện và sở thích của từng người. Họ đã nhận thức được những chuẩn mực về công năng của một ngôi nhà .
Một ảnh hưởng khác đến chúng ta trong việc chọn lựa vật liệu để xây dựng sao cho thỏa mãn những nhu cầu về công năng, thị hiếu và thẩm mỹ là giá thành sản phẩm. Do đó con người ngày càng đòi hỏi hơn nữa một sản phẩm đưa vào xây dựng trang trí cho ngôi nhà bền hơn, ít phải bảo trì trong khi vẫn đảm bảo được công năng và giá trị thẩm mỹ.Việc tìm hiểu về tính chất và công năng của từng loại vật liệu sẽ giúp cho nhà thiết kế có nhiều sự lựa chọn đúng đắn cho những ý tưởng sáng tạo của mình, đồng thời có thể tư vấn cho khách hàng của mình trước khi đi đến thống nhất và quyết định lựa chọn những vật liệu phù hợp cho ngôi nhà .
Các công nghệ về căn hộ thanh nhã và tiện ích là nhằm mang lại những thuận lợi cho cả người khỏe mạnh và người bệnh tật trong sinh hoạt hàng ngày.Việc ý thức về những nhu cầu trước những chọn lựa vật liệu hữu dụng để tiến đến việc làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn!